DỰ ÁN NHÀ MÁY RÁC – ĐIỆN TẠI TP. HẢI PHÒNG

03/04/2018

I.1.1- Tên dự án

“NHÀ MÁY RÁC – ĐIỆN HẢI PHÒNG”

Xử lý tổng hợp chất thải & Phát điện

1000 tấn/ngày CTR sinh hoạt, 200 tấn/ngày CTR công nghiệp & 15-20 MW điện tại Khu xử lý chất thải rắn thành phố Hải Phòng

I.1.2- Địa điểm dự án

Khu xử lý chất thải rắn tại thành phố Hải Phòng, trong “Quy hoạch quản lý chất thải rắn thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030” của thành phố Hải Phòng.

I.3.1-Hiện trạng quản lý CTR tại thành phố Hải Phòng

  Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là thành phố lớn thứ 3 cả nước, lớn thứ 2 miền Bắc sau Hà Nội. Hải Phòng là một trong những địa phương đạt được nhiều thành tựu về thu hút đầu tư và phát triển các KCN, khu du lịch. Việc hình thành và phát triển kinh tế như vậy, một mặt đã tạo ra động lực đáng kể để góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương nhưng đồng thời, cũng tạo ra nhiều áp lực ngày càng gia tăng về mặt BVMT, nhất là vấn đề quản lý CTR từ hoạt động công nghiệp.

Chất thải rắn sinh hoạt

Theo thống kê, CTR sinh hoạt phát sinh ở các đô thị chiếm đến hơn 50% tổng lượng CTR sinh hoạt của cả nước mỗi năm. Đến năm 2015, tổng khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại các đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày. Trong khi năm 2014, khối lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày. Riêng tại Hải Phòng, khối lượng CTR sinh hoạt trong năm 2015 là 365.000 tấn. Lượng rác thải sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 1.000 tấn/ngày.

Hải Phòng là thành phố có quy mô dân số lớn. Với diện tích đất liền: 1.561,8 km2; dân số: 1,963 triệu người (tính đến tháng 12/2016), là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hải Phòng gồm 7 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo; (223 đơn vị cấp xã gồm 70 phường, 10 thị trấn và 143 xã). Mật độ dân cư bình quân 1.257 người/ km2. Tình hình về dân số như trên cũng là một trong những nét chính về thực trạng các khu vực phát sinh CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Theo thống kê, tỷ lệ chất thải nguy hại (CTNH) bị thải lẫn vào chất thải sinh hoạt mang đến bãi chôn lấp là 0,02 ÷ 0,82%. CTNH trong sinh hoạt thuờng là: pin, ắc-quy, đèn tuýp, nhiệt kế thủy ngân vỡ, bao bì chất tẩy rửa, vỏ hộp sơn, vec-ny, vỏ hộp thuốc nhuộm tóc, lọ sơn móng tay, vỏ bao thuốc trừ sâu, vỏ bao thuốc chuột, bình xịt ruồi, muỗi, gián, bơm kim tiêm của các đối tượng nghiện chích ma túy…

Hiện tại, CTNH trong sinh hoạt vẫn chưa được thu gom và xử lý riêng và bị lẫn với CTR sinh hoạt để đưa đến bãi chôn lấp. Việc chôn lấp và xử lý chung sẽ gây ra nhiều tác hại cho những người tiếp xúc trực tiếp với rác, ảnh hưởng tới quá trình phân hủy rác và hòa tan các chất nguy hại vào nước rỉ rác. Do vậy, cần có chính sách và có kế hoạch thu gom riêng biệt CTNH trong CTR sinh hoạt.

Chất thải y tế

Rác thải y tế trong Thành phố được thu gom riêng gồm 3 loại: CTR sinh hoạt, chất thải tái chế bao bì, vỏ đựng hộp thuốc… và chất thải nguy hại (chất thải lây nhiễm, vật sắc nhọn, chất thải từ phòng thí nghiệm, chất thải dược phẩm, chất thải bệnh phẩm…).

Hiện thành phố Hải Phòng có 36 bệnh viện (bao gồm 09 bệnh viện tuyến thành phố, 16 bệnh viện tuyến huyện, 04 bệnh viện tư nhân và 08 bệnh viện thuộc các Bộ ngành trên địa bàn thành phố Hải Phòng), 12 Trung tâm Y tế dự phòng, 216 Trạm y tế xã/phường/thị trấn với tổng số giường bệnh là 6.822 giường. Trong đó có 05 bệnh viện áp dụng mô hình xử lý chất thải y tế tại chỗ và 02 bệnh viện đầu tư thiết bị lò đốt rác y tế. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 15/37 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải y tế tập trung. Các bệnh viện và các cơ sở y tế còn lại hiện vẫn chưa được đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn.

Cùng với sự phát triển và sự tăng nhanh về số lượng giường bệnh điều trị, khối lượng phát sinh CTR từ các hoạt động y tế có chiều hướng ngày càng gia tăng. Theo thống kê, mức tăng chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm. Ước tính năm 2015, lượng CTR y tế phát sinh là 1.000 tấn/ngày và năm 2020 sẽ là 8.000 tấn/ngày. Riêng đối với Hải Phòng, khối lượng CTR y tế năm 2014 là 4.282 tấn/năm, trong đó có 438 tấn/năm CTNH y tế. Hầu hết các lò đốt rác y tế tại các huyện hiện nay không còn khả năng xử lý rác thải đạt tiêu chuẩn, nhưng rác thải ra vẫn phải đốt nên lò được sử dụng để đốt dạng thủ công.

Chất thải rắn công nghiệp            

Chất thải rắn công nghiệp trong đô thị phát sinh từ các cơ sở sản xuất công nghiệp nằm xen kẽ trong các khu vực dân cư đô thị. Hiện nay, còn khá nhiều các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ còn tồn tại trong đô thị như các nhà máy cơ khí, dệt may, da giày, sản xuất bia, bánh kẹo, nước ngọt,…

Theo số liệu của Sở TNMT, trên địa bàn Thành phố: Thành phố có trên 13.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm ngoài các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; có 39 làng nghề (23 làng nghề truyền thống và 16 làng nghề mới) với nhiều loại hình nghề khác nhau.

Ước tính trong CTR công nghiệp, lượng CTNH chiếm tỷ lệ khoảng 20 – 30%. Tỷ lệ này thay đổi tùy loại hình công nghiệp, trong đó ngành cơ khí, điện, điện tử, hóa chất là những ngành có tỷ lệ CTNH cao hơn.

Bãi rác tạm

Chất thải rắn: Chủ yếu là rác sinh hoạt khu vực nông thôn, phát sinh từ  sinh hoạt của nhân dân khoảng 275.000 tấn, tỷ lệ thu gom, xử lý đạt 81% tương đương 217.000 tấn; chất thải rắn công nghiệp phát sinh từ hoạt động làng nghề khoảng trên 100 tấn/năm. Rác sinh hoạt được thu gom, vận chuyển về bãi rác tại các xã, hiện phần lớn các bãi rác là bãi rác tạm, việc xử lý không đảm bảo vệ sinh gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng sức khỏe nhân dân khu vực. Ngoài ra, các loại bao bì thuốc bảo vệ thực vật không được thu gom, xử lý đúng quy định.